Nội dung

Vị thế mới của cây khoai lang trong nền nông nghiệp (2/17/2012 9:17:56 AM)

Khoai lang là một cây dân gian đã được trồng từ lâu đời ở nước ta, có thể trồng được ở nhiều điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau. Hiện nay, khoai lang là một cây trồng có thu nhập cao, đầu tư ít, bán được giá, lợi nhuận đem lại cho nông dân chắc chắn cao hơn hẳn những cây trồng ngắn ngày khác ở nước ta.

 

I. Đặc tính cây khoai lang

Cây khoai lang có tên khoa học là Ipomoea batatas (L) Lam, là cây hoa màu lương thực ăn củ và lấy dây lá, trồng hàng năm, họ Bìm Bìm (Convolvulaceae). Khoai lang trồng ở vùng nhiệt đới thường có thân bò, trồng ở vùng ôn đới, thường có dạng bụi.

Lá hình tim, nguyên hay có khía. Hoa trắng, vàng hay tím, hình phễu. Củ hình thoi do rễ phồng lên, chứa tinh bột và đường, vỏ củ màu trắng, vàng hay đỏ tím, thịt củ trắng, vàng hay tím nhạt tùy theo giống.

Khoai lang là cây lục bội thể (hexaploid 2n = 6x = 90), nguồn gốc ở Châu Mĩ nhiệt đới, lan truyền rất sớm sang các quần đảo Thái Bình Dương và từ đó sang các nước Châu Á, được C.Colombo đưa về Châu Âu và người Bồ Đào Nha đưa sang Châu Phi. Hiện nay, khoai lang được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới và một số vùng cận nhiệt đới, ôn đới.

Khoai lang là một cây dân gian đã được trồng từ lâu đời ở nước ta, có phổ thích nghi rất rộng, có thể trồng được ở nhiều điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau; nhưng tốt nhất là trồng trên đất pha cát, lượng mưa năm khoảng 1.000 mm, chịu hạn, chịu đất xấu. Là cây giao phấn, ngày ngắn, không ra hoa khi ngày dài quá 13 giờ 30 phút, do đó ít khi ra hoa ở những vùng có vĩ độ ôn đới trên 30 độ Bắc hay Nam. Ở vùng nhiệt đới, dễ ra hoa, có hạt, có sức sống, nhưng thường chỉ trồng bằng các đoạn dây gọi là hom, trong trường hợp gây giống có thể trồng bằng mầm nẩy từ củ.

Khoai lang có 2 nhóm giống chính gồm: Nhóm giống củ thịt mềm, nhiều nước, màu trắng, vàng, da cam, hồng, tím và nhóm giống củ thịt chắc, nhiều bột, thích hợp với công nghệ thái lát, phơi khô, lấy bột.

Thành phần khoai lang tươi: 68% nước, 0,8% protit, 28,5% gluxit, 34 mg% canxi, 50 mg% phốt-pho, 23 mg% vitamin C. Thành phần khoai lang khô: 11% nước, 2,2% protit, 80% gluxit.

II. Chuỗi giá trị cây khoai lang

1. Khoai lang là cây đa tác dụng

1.1 Khoai lang nhiều tinh bột

Tinh bột khoai lang có tính kết dính cao hơn hẳn tinh bột các loại hạt cốc, dễ tạo màng, khẩu vị dễ chịu, không gây kích thích, khác hẳn khẩu vị hạt cốc điển hình như bột ngô, lúa mì, chủ yếu do lượng tàn dư protit thấp, thường dưới 0,05- 0,10%. Các giống khoai lang giàu tinh bột được sử dụng theo các hướng sau đây:

a. Làm nguyên liệu để chế biến sâu các sản phẩm công nghiệp:

Tinh bột khoai lang có thể chế biến sâu thành các sản phẩm tinh bột biến tính, các sản phẩm hoá công, các sản phẩm lên men thuỷ phần được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp thực phẩm, dệt, giấy, vật liệu xây dựng, cao su nhân tạo ...

b. Làm nguyên liệu lý tưởng để SX thức ăn chăn nuôi (TĂCN) có giá cạnh tranh cao.

Với công nghệ mới, khoai lang khô thông qua công nghệ vi sinh để chế biến thức ăn vi sinh giàu đạm, có hàm lượng protit cao tới trên 40%, tương đương hàm lượng đạm trong đậu tương.

Hiện nay, ở nước ta, sản lượng TĂCN gia súc, gia cầm và thuỷ sản khoảng 25 triệu tấn/năm, trong tương lai, ngành chăn nuôi phát triển mạnh, cần tới 50 triệu tấn/năm. Nguyên liệu giàu đạm hiện nay chủ yếu dựa vào đậu tương và bột cá NK. Nếu sử dụng thức ăn vi sinh giàu đạm từ khoai lang để phối chế với các nguyên liệu chất bột khác thì sẽ giảm hẳn nhu cầu NK đậu tương và bột cá đắt tiền- là những mặt hàng mà Việt Nam không có lợi thế phát triển như Mỹ, Braxin, Achentina và Peru.

Nguồn chất bột làm TĂCN hiện nay chủ yếu dựa vào ngô, mà SX ngô ở nước ta cũng không có lợi thế cạnh tranh so với các nước ôn đới SX ngô theo công nghệ hiện đại. Nhưng sử dụng khoai lang thay thế một phần ngô, dù cho hàm lượng protit chỉ 2,2% thua kém ngô, nhưng được phối chế tỉ lệ cao với thức ăn vi sinh giàu đạm, vẫn đảm bảo TĂCN có hàm lượng dinh dưỡng đạt chuẩn, góp phần giảm thiểu nhu cầu NK ngô với giá khá đắt.

TĂCN được cơ cấu lại theo hướng này dựa vào nguyên liệu chính là bột khoai lang phối chế với thức ăn vi sinh giàu đạm, cũng lấy nguyên liệu từ khoai lang, thì giá thành TĂCN có thể giảm thiểu được trên 30%, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản, tạo ra một hướng đi mới cho ngành công nghiệp TĂCN dựa vào lợi thế của Việt Nam. Không những vậy, thân lá khoai lang ở dạng tươi và khô cho ủ lên men, cũng là loại thức ăn xanh, thô cần thiết cho ngành chăn nuôi.

c. Làm nguyên liệu để SX ethanol sinh học có giá thành cạnh tranh, thân thiện với môi trường, góp phần phát triển năng lượng tái tạo thay thế năng lượng hoá thạch.

Cây khoai lang được coi là “cây vua năng lượng”. Hiệu suất SX ethanol sinh học từ khoai lang cao hơn hẳn mía đường, cao lương, ngô, sắn và khoai tây. Với năng suất khoai lang tinh bột đạt 70 tấn/ha/vụ thì 1 vụ khoai có thể SX 10 tấn ethanol/ha, nếu 1 năm làm 2- 3 vụ có thể SX 20 tấn- 30 tấn ethanol/ha năm, tạo ra triển vọng phát triển ethanol sinh học có giá cạnh tranh, không tranh chấp lương thực của loài người. Với công nghệ SX ethanol sinh học từ khoai lang, thông qua chu trình tuần hoàn khép kín, không thải ra độc tố, lại còn sản sinh khí CH4 để phát điện, đem lại lợi ích to lớn về kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

1.2 Khoai lang thực phẩm

Từ xa xưa, nông dân ta vẫn sử dụng khoai lang làm lương thực cho người, nhất là khi thiếu gạo ăn hoặc vào vụ giáp hạt thường vẫn ăn khoai luộc thay cơm, hoặc ăn cơm độn khoai, là bữa ăn đã có từ lâu của dân nghèo.

Nhưng từ nhiều năm nay, kinh tế phát triển, mức sống nhân dân ta được nâng cao, dân có đủ gạo ăn, ít ăn cơm độn khoai.

Những nghiên cứu gần đây cho biết, giống khoai lang tím có polyphenol chứa anthocyamin có tác dụng kháng ôxy hoá rất mạnh, có khả năng kiềm chế đột biến của tế bào ung thư, có tác dụng ngăn ngừa ung thư, hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh tim mạch, có công năng làm đẹp và thông tiện. Cây khoai lang có sắc tố có thể bào chế chất nhuộm màu thực phẩm thiên nhiên thay sắc tố tổng hợp nhân tạo. Khoai lang chứa nhiều loại vitamin A, B,C,E và các chất khoáng K, Ca, Mg, Fe, Se…, giàu chất xơ thực phẩm. Tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc đã đánh giá khoai lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất của thế kỷ 21, đang được thị trường thế giới rất ưa chuộng.

2. Hiệu quả kinh tế cao

Với các công năng như trên, khoai lang là một cây trồng có thu nhập cao. Một vụ khoai lang chỉ cần khoảng 110 ngày, năng suất khoai thực phẩm đạt khoảng 40- 50 tấn/ha vụ, với giá 2.000 đ/kg thì nông dân có thể thu 100 triệu đồng/ha vụ, nếu làm 2- 3 vụ/năm, có thể thu 200- 300 triệu/ha/năm. Với khoai lang tinh bột, năng suất 70- 80 tấn/ha/vụ, với giá 1.000 đ/kg thì nông dân có thể thu 70- 80 triệu đồng/ha/vụ, nếu làm 2- 3 vụ, có thể thu 150- 300 triệu đồng/ha/năm.

Khoai lang đầu tư ít, bán được giá, lợi nhuận đem lại cho nông dân chắc chắn cao hơn hẳn những cây trồng ngắn ngày khác ở nước ta.

3. Khoai lang dễ trồng, nhanh ăn, đầu tư ít, dễ bảo quản, chế biến:

Khoai lang có thể trồng ở khắp cả nước ta, từ vùng đồng bằng đến trung du miền núi, từ Bắc vào Nam, thích hợp mọi loại đất, mọi thời vụ, chỉ cần đất trồng không úng nước. Trồng 100 ngày có thể thu hoạch, nhân giống rất đơn giản, bón phân chuồng và phân khác chỉ tốn khoảng 5 triệu đồng/ha, tốn rất ít công chăm sóc và thu hoạch, doanh thu đạt trên 100 triệu đồng/ha vụ.

Khoai lang củ dễ bảo quản. Nếu bảo quản tươi có thể giữ được vài tháng, nếu sấy khô có thể giữ được thời gian dài.

Khoai lang thực phẩm hoặc tinh bột dễ chế biến. Việc làm khô và sơ chế dựa vào công nghệ sấy rất đơn giản, nông dân có thể tự làm, còn công đoạn chế biến sâu dựa vào doanh nghiệp.

4. Có thị trường tiêu thụ lớn

Khoai lang thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày của thị trường nội địa, có thể XK sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu và Đông Nam Á.

Khoai lang tinh bột làm nguyên liệu SX nhiều sản phẩm các có nhu cầu lớn của thị trường. Nếu SX ethanol sinh học thì thị trường nội địa có nhu cầu rất lớn, triển vọng XK cũng rất lớn nhằm đáp ứng nhu cầu toàn cầu về phát triển năng lượng tái tạo thay thế năng lượng hoá thạch.

Nếu SX TĂCN, với 40% nguyên liệu là khoai lang, trước mắt cần 10 triệu tấn (quy khô)/năm, về lâu dài cần tới 20 triệu tấn (quy khô)/năm. Với thức ăn đạt chất lượng cao với giá cạnh tranh, còn có thể XK lớn.

5. Tạo ra cơ hội lớn về việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân

Với chuỗi giá trị cao cùng với tiềm năng phát triển lớn ở nước ta, đưa cây khoai lang hướng tới là một cây chủ lực được trồng phổ biến ở mọi miền nước ta như cây lúa, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho hàng chục triệu nông dân gắn với truyền thống SX khoai lang đã có từ lâu đời, làm cho chủ trương phát triển mạnh khoai lang rất dễ được nông dân ta tiếp nhận.

III. Định hướng phát triển khoai lang ở Việt Nam

1. Định hướng phát triển các sản phẩm chủ yếu về khoai lang

1.1. Khoai lang giàu tinh bột

+ SX TĂCN là hướng phát triển có quy mô thương mại lớn. Khoai lang tươi, khoai lang khô là thức ăn vi sinh giàu đạm. Thức ăn giàu đạm này phối chế với bột khoai lang khô và các nguyên liệu phối trộn khác theo công thức khác nhau sẽ thu được các loại thức ăn phù hợp nhu cầu dinh dưỡng đa dạng của các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản.

+ SX nguyên liệu công nghiệp: Bột khoai lang được SX tinh bột biến tính như tinh bột oxy hoá, và nhiều loại tinh bột khác được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp dệt, giấy, y dược, thực phẩm, vật liệu xây dựng, đúc, công nghiệp nhẹ, công nghệ sinh học; SX sản phẩm hoá công như axit citric, axit axetic, axit oxalic, polyetylene, oxien, socbic alcohl, ethanolamin là nguyên liệu quan trọng để SX cao su nhân tạo, dầu béo, bao bì, mỹ phẩm, công nghiệp quốc phòng; sản phẩm lên men và thuỷ phân như đường glucose, fructo, oligose…

+ SX ethanol sinh học:

Ở nhiều nước, đang sử dụng mía đường (Braxin), ngô (Mỹ) để SX ethanol và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Việc SX ethanol sinh học không tranh chấp với lương thực đang hướng vào các đối tượng củ cải đường, cao lương ngọt, sắn, khoai lang, khoai tây….

Ở nước ta, đường là một loại nhu yếu phẩm, do diện tích đất phù hợp có hạn, nên SX đường mía chỉ đủ đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước, khó có khả năng SX mía đường làm nguyên liệu SX ethanol sinh học.

Ba cây củ cải đường, cao lương ngọt, khoai tây chỉ phát triển phù hợp ở một số vùng sinh thái mát ở nước ta, khó tạo ra vùng SX đủ lớn, có đủ sức cạnh tranh để làm nguyên liệu SX ethanol sinh học.

Sắn là nguyên liệu tốt SX ethanol sinh học. Cả nước ta đã trồng 0,5 triệu ha sắn, đạt 8 triệu tấn/năm, năng suất xấp xỉ đạt 16 tấn/ha, XK đạt gần 1 tỷ USD/năm, nhưng khó mở rộng diện tích vì quỹ đất phát triển diện tích sắn cần mở rộng thêm đều là vùng đất dốc sẽ dẫn đến tình trạng phá rừng, xói mòn, thoái hoá đất. Vả lại, dù năng suất sắn đạt trên 50 tấn/ha nhưng phải mất một năm, cũng không cạnh tranh nổi với khoai lang đạt năng suất 70- 80 tấn/ha chỉ trong 1 vụ hơn 3 tháng.

Cây khoai lang giàu tinh bột, năng suất giống mới đạt 70-80 tấn/ha/vụ, tiềm năng 120 tấn/ha/vụ, hàm lượng tinh bột trung bình từ 10-15% nay nâng lên 25%, hệ số chuyển hoá rất cao, cứ 3 tấn khoai lang khô hoặc 8 tấn khoai lang tươi thu được 1 tấn ethanol, dịch thải từ SX ethanol có thể sản xuất CH4 mà 1m3 CH4 có nhiệt lượng tương đương 0,76 tấn than tiêu chuẩn hoặc SX 1,5 kw điện.

Như vậy, so sánh các nguyên liệu để SX ethanol sinh học, không có cây trồng nào cạnh tranh nổi với cây khoai lang trong điều kiện Việt Nam. Nếu nước ta hàng năm sử dụng trên 10 triệu tấn xăng cần trên nửa triệu tấn ethanol sinh học, để SX E5 phải sử dụng tới 5 triệu tấn khoai lang khô nguyên liệu.

Dùng khoai lang để SX ethanol sinh học ngoài thu được ethanol, còn các sản phẩm khác, nâng cao chuỗi giá trị của ngành công nghiệp này.

1.2. Khoai lang thực phẩm

Các loại giống khoai lang ăn ngon, nhất là khoai lang có sắc tố vàng, tím, hồng, đều là những giống khoai lang quý. Những năm gần đây, những giống khoai lang này đã có bước phát triển vượt bậc.

Nhiều giống khoai lang mới ra đời, đặc biệt là giống khoai lang ruột tím, có giá rất đắt, có nơi bán trên 100.000đ/kg khoai khô. Hiện nay, khoai lang hồng, ruột tím đang có thị trường tiêu thụ rộng lớn.

Trên thị trường đã có nhiều sản phẩm chế biến từ khoai lang thành thực phẩm ăn ngon, thuận tiện, bắt mắt. Sản phẩm khoai lang thực phẩm ngày càng đa dạng hơn như lát khô, chiên dầu, mì sợi, mứt, bánh bích quy, phồng tôm, bột dinh dưỡng, nước uống ... sẽ lần lượt ra đời với bao bì đẹp được thị trường đánh giá cao.

Các sản phẩm khoai lang thực phẩm cùng với gạo, thịt, trứng, sữa, rau quả… sẽ đổi mới cơ cấu bữa ăn, phong phú, bổ dưỡng và văn minh hơn, góp phần gia tăng an ninh lương thực - thực phẩm của loài người, ứng phó có hiệu quả đối với biến đổi khí hậu toàn cầu trong bối cảnh dân số thế giới tăng lên 10 tỷ người, kèm theo xu thế diện tích khá lớn đất trồng lúa bị nhấn chìm do mực nước biển dâng.

2. Các giải pháp chủ yếu:

2.1 Bố trí quỹ đất gắn với chế độ canh tác phù hợp

Phát triển khoai lang dựa vào quỹ đất sau đây

- Trên diện tích 3,2 triệu ha đất trồng lúa 2 vụ, giành khoảng 700.000 ha chủ yếu là vụ đông ở miền Bắc để trồng khoai lang đông theo công thức luân canh: lúa xuân – lúa mùa – khoai lang đông.

- Trên diện tích 0,7 triệu ha đất 1 vụ lúa 1 vụ màu, có thể dành vài trăm ngàn ha vụ màu để trồng khoai lang theo công thức luân canh: khoai lang xuân – lúa mùa hoặc lúa xuân – khoai lang thu đông.

- Trên diện tích khoảng 500.000 ha đất bãi ven sông suối có thể dành vài trăm ngàn ha để trồng 1 năm 2 vụ khoai lang luân canh với 1 vụ cây trồng ngắn ngày khác.

- Trồng vài trăm nghìn ha khoai lang trên đất nương rẫy ở trung du, miền núi có độ dốc thấp.

- Trồng xen khoai lang vào vườn cây lâu năm chưa khép tán.

Hiện nay, diện tích khoai lang cả nước khoảng 150.000 ha, năng suất khoảng 15 tấn/ha/vụ, có đủ khả năng nâng lên khoảng 2 triệu ha, chủ yếu dựa vào diện tích tăng vụ, không cần khai phá đất mới, được thâm canh cao, năng suất khoai lang tinh bột 80- 100 tấn/ha/vụ, khoai lang thực phẩm 50- 60 tấn/ha/vụ.

2.2 Phát triển khoa học- công nghệ

Tạo chọn các giống khoai lang mới có năng suất và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Nghiên cứu các loại công nghệ chế biến tinh xảo, chế biến sâu, khám phá thêm những sản phẩm mới dựa vào công nghệ cao lấy nguyên liệu từ khoai lang phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa và XK.

2.3. Huy động lực lượng DN vào cuộc

Khoai lang là cây dễ trồng nhất trong nông nghiệp, dễ tạo ra bước đột phá nhanh, nhưng muốn trở thành một sản phẩm nông nghiệp chủ lực, đòi hỏi cách làm bài bản, dựa vào sự gắn kết giữa nông dân với DN. Các DN, nhất là DN nhỏ và vừa ở nông thôn phải là lực lượng xung kích trên mặt trận này.

Với số vốn đầu tư không lớn, nhưng phải gánh vác trách nhiệm thu mua sản phẩm làm ra của nông dân, tổ chức chế biến sâu, tổ chức tiêu thụ ở thị trường trong nước và XK, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng lớn, gắn bó hài hoà lợi ích nông dân với DN trong chu trình SX khoai lang ở quy mô công nghiệp.

                                                                        Theo website nongnghiep.vn

 

CÂY KHOAI LANG
       
   
         
   
 

         
       
 

Các tin cũ hơn:

ĐBSCL: Chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại do hạn mặn (2/10/2020 9:47:53 AM)
Bản tin sâu bệnh (26/11/2019) (12/7/2019 9:20:00 AM)
Cần chủ động biện pháp đối phó vụ lúa Đông Xuân 2019-2020 (9/16/2019 10:07:43 AM)
BẢN TIN SÂU BỆNH (18.6.2019) (7/3/2019 9:22:36 AM)
Dự báo khí tượng - thủy văn thời hạn mùa từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2019 tại khu vực tỉnh Kiên Giang_TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (4/8/2019 8:18:18 AM)
Hội nghị tổng kết công tác giống cây trồng, vật nuôi năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019_Ks. PHẠM DUY THIÊM (2/1/2019 10:19:07 AM)
Hội thảo khoa học “Phát triển nông nghiệp sạch, Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và Nông nghiệp hữu cơ Tỉnh Kiên Giang”_KS. PHẠM DUY THIÊM (5/17/2018 3:04:09 PM)
Hội thảo đánh giá giống lúa sản vụ Đông xuân 2017 -2018 tại trại giống Nông nghiệp Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang_KS. PHẠM DUY THIÊM (3/7/2018 9:09:49 AM)
Hội thảo đánh giá giống lúa cao sản vụ Đông xuân 2017 -2018 tại tỉnh Kiên Giang_ KS. PHẠM DUY THIÊM (3/7/2018 9:07:06 AM)
Hội nghị tổng kết công tác giống cây trồng vật nuôi năm 2017_KS. PHẠM THỊ NHƯ QUỲNH (3/5/2018 4:01:54 PM)
Đại hội Công đoàn cơ sở Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp nhiệm kỳ 2017-2022_KS. PHẠM DUY THIÊM (11/20/2017 10:33:57 AM)
Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp Kiên Giang tham gia Festival Nông nghiệp – Ngư nghiệp tỉnh Kiên Giang năm 2017 _ KS. PHẠM DUY THIÊM (10/7/2017 10:12:42 AM)
Chi đoàn Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang tham gia chương trình tuyên truyền về Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Kiên Giang, tỉnh Kiên Giang_CN.TỪ THỊ MỸ HẠNH (9/16/2017 11:14:58 AM)
Chi đoàn Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang tham gia tổ chức tặng quà cho học sinh nghèo, vượt khó học giỏi tại Trường tiểu học Thuận Hòa 1 nhân kỷ niệm 72 năm ngày Cách mạng tháng 8 và lễ Quốc khánh (02/9/1945-02/9/2017)_CN LÊ THỊ CHINH (9/16/2017 10:48:41 AM)
Chi bộ Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp Kiên Giang tổ chức Đại hội đảng viên lần thứ XII, nhiệm kỳ 2017-2020_KS. PHẠM DUY THIÊM (5/30/2017 4:01:10 PM)
Thông báo yêu cầu báo giá vận chuyển lúa giống (3/28/2017 3:41:13 PM)
Hội thảo đánh giá giống lúa vụ Đông xuân 2016 -2017 tại tỉnh Kiên Giang_ KS. PHẠM DUY THIÊM (2/25/2017 10:57:35 AM)
Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang trưng bày sản phẩm nông nghiệp tại Hội nghị tổng kết phong trào Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2012-2016_KS. PHẠM DUY THIÊM (1/4/2017 10:38:26 AM)
Hội đồng Khoa học cơ sở Sở Nông nghiệp & PTNT thông qua Báo cáo kết quả nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm 02 giống lúa mới GKG5 và GKG24_KS. PHẠM DUY THIÊM (12/14/2016 9:28:54 AM)
Hội thảo đánh giá giống lúa vụ Hè Thu 2016 tại tỉnh Kiên Giang_ThS. LƯU THỊ OANH (9/14/2016 8:12:43 AM)
Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang tham gia Hội chợ - Triển lãm xúc tiến đầu tư Giống nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 - KS. PHẠM DUY THIÊM (7/7/2016 5:58:19 AM)
Một số lưu ý khi khử lẫn lúa giống -Ks. LÊ VĂN MẠNH. (5/11/2016 4:13:03 PM)
Lịch thời vụ gieo sạ lúa Hè thu và Thu đông 2016 tại tỉnh Kiên Giang_TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (3/26/2016 10:10:56 AM)
Dự báo cơ cấu chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam_ TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (11/16/2015 4:25:37 PM)
Chi đoàn Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang tổ chức về nguồn tại huyện U Minh Thượng_CN. TỪ THỊ MỸ HẠNH (8/27/2015 9:30:55 AM)
Gạo “Hương Biển Kiên Giang” đồng hành cùng chất lượng, hội nhập với thị trường_KS. LẠI THỊ HỒNG LUYẾN (6/29/2015 4:01:55 PM)
Công tác tập huấn quy trình kỹ thuật sản xuất lúa giống cấp xác nhận 1 vụ Hè Thu 2015_ KS. TRẦN HỒNG CÚC (6/1/2015 9:49:51 AM)
Kết quả hội thảo đánh giá giống lúa vụ Đông Xuân 2014-2015 tại mạng lưới nhân giống tỉnh Kiên Giang_KS. NGUYỄN THỊ LAN (4/8/2015 7:57:53 AM)
Phương hướng nhiệm vụ trọng điểm năm 2015 của Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang_CN. TỪ THỊ MỸ HẠNH (3/30/2015 9:24:03 AM)
Hội thảo đánh giá giống lúa vụ Đông Xuân 2014-2015_ThS. LƯU THỊ OANH (3/27/2015 2:52:33 PM)
Tỉnh Kiên Giang chuẩn bị lúa giống phục vụ cho sản xuất vụ hè thu 2015_TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (3/23/2015 9:43:39 AM)
Kiên Giang chủ động 45% lúa giống (1/31/2015 10:31:38 AM)
Hương Biển Kiên Giang - nhãn hiệu gạo chất lượng_KS. DANH NGOC HẢI (11/24/2014 8:06:39 AM)
Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang tập huấn quy trình kỹ thuật sản xuất giống lúa cấp xác nhận vụ Hè Thu 2014 cho nông dân hợp tác xã và tổ liên kết nhân giống_KS. PHẠM THỊ NHƯ QUỲNH (6/23/2014 3:31:43 PM)
Kết quả thực hiện các chương trình sản xuất giống cây trồng vật nuôi 06 tháng đầu năm 2014 _ ThS. LÊ HỮU TOÀN (5/29/2014 4:23:50 PM)
Phương hướng nhiệm vụ trọng điểm năm 2014 của Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang_CN. TỪ THỊ MỸ HẠNH (2/6/2014 8:38:01 AM)
Kết quả thực hiện công tác giống nông lâm ngư nghiệp của Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp Kiên Giang năm 2013_CN. TỪ THỊ MỸ HẠNH (12/31/2013 2:56:29 PM)
Thuốc trừ sâu sinh học (Biopesticide) - giải pháp an toàn cho nền nông nghiệp xanh _ CN. PHAN THỊ CẨM QUYÊN (11/29/2013 8:30:12 AM)
Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp tỉnh Kiên Giang đưa Trại sản xuất giống heo cấp ông bà vào hoạt động từ năm 2013 – KS. PHAN THỊ THỦY (10/10/2013 8:51:27 AM)
Giới thiệu về một số Trại Giống Nông nghiệp - những địa chỉ đáng tin cậy trong chuyển giao khoa học kỹ thuật và cung ứng giống cho nông dân - CN. LƯƠNG THU TRANG (9/12/2013 3:36:39 PM)
Những đề tài nghiên cứu khoa học của Trung tâm Giống NLNN Kiên Giang thực hiện trong giai đoạn 2013-2016 - CN. NHÂM THỊ THU THỦY (8/23/2013 7:48:14 AM)
Ưu thế khi sử dụng sản phẩm của Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp Kiên Giang - CN. TÔ TRUNG KIÊN (7/18/2013 3:31:33 PM)
Kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2013 - CN. TỪ THỊ MỸ HẠNH (7/10/2013 2:19:19 PM)
Nuôi cấy túi phấn lúa (Anther Culture) - Một kỹ thuật hữu hiệu tạo dòng thuần đơn bội kép - CN. PHAN THỊ CẨM QUYÊN (5/27/2013 8:05:09 AM)
Dự báo sâu bệnh từ ngày 20 - 27/5/2013 CỦA CỤC BVTV (5/23/2013 8:58:18 AM)
Phòng Chứng nhận Chất lượng của Trung tâm Giống Nông – Lâm – Ngư nghiệp tỉnh Kiên Giang được chỉ định là Tổ chức Chứng nhận chất lượng Giống Cây trồng - TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (9/11/2012 3:11:17 PM)
Hội thảo đánh giá giống lúa vụ Hè thu 2012 - ThS. HOÀNG THỊ MINH THANH (8/25/2012 10:43:39 AM)
Kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2012 - ThS. HOÀNG THỊ MINH THANH (8/1/2012 3:21:30 PM)
Kết quả hoạt động quý I năm 2012 - ThS. HOÀNG THỊ MINH THANH (6/8/2012 8:35:09 AM)
Phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ hại lúa (5/18/2012 9:13:49 AM)
Kết quả đánh giá giống vụ Đông xuân 2011-2012 - ThS. HOÀNG THỊ MINH THANH (3/27/2012 8:26:32 AM)
Hỗ trợ 50% chi phí sản xuất cây trồng, vật nuôi (3/25/2012 10:17:08 AM)
Bình chọn giống lúa vụ đông xuân (2/24/2012 8:10:14 AM)
Kết quả hoạt động của Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp Kiên Giang tháng 9 năm 2011 - Ths. LÊ HỮU TOÀN (9/22/2011 4:35:00 PM)
Nuôi tu hài trong... rổ (8/17/2011 3:22:24 PM)
Thúc đẩy chăn nuôi để giảm áp lực thị trường thực phẩm (8/11/2011 8:30:56 AM)
Nguy cơ dịch bệnh từ 80 triệu tấn chất thải (7/26/2011 8:03:48 AM)
Phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn (7/12/2011 2:18:34 PM)
Chuyện chưa từng có ở ĐBSCL: "Nhái" cả cá linh non (7/12/2011 2:05:58 PM)
Xen ghép lúa chịu mặn, cá nước ngọt (7/7/2011 8:19:28 AM)
Thuốc bảo vệ thực vật giả hoành hành: Giọt nước làm tràn ly (6/24/2011 9:58:36 AM)
Nông dân U Minh: Đau đầu vì nạn ốc bươu vàng (6/23/2011 8:16:06 AM)
Giống khoai lang rau mới (6/20/2011 9:44:49 AM)
Thu nhập ổn định từ cây sơ ri (6/14/2011 4:50:50 PM)
Những vật nuôi mới lạ (6/9/2011 8:04:01 AM)
Những loại thuốc trừ sâu hữu cơ thân thiện - Duy Hùng (Phóng viên báo Nông Nghiệp) (6/6/2011 10:43:21 AM)
Hợp tác sản xuất lúa gạo giữa Việt Nam và Cu Ba (6/6/2011 9:35:33 AM)
Phân bón hiệu “Máy Cày” cho vụ lúa hè thu (6/3/2011 9:20:51 AM)
Khát khao đưa cá rô đồng Việt Nam xuất ngoại (6/2/2011 2:00:51 PM)
Hướng mới trong quản lý dịch hại trên lúa (6/2/2011 10:30:58 AM)
Nhà nông tìm hiểu (6/2/2011 10:25:17 AM)
Giải cứu vùng tôm (5/30/2011 2:39:01 PM)
Gắn kết nuôi trồng với thú y thủy sản (5/30/2011 2:29:14 PM)
Dùng tuyến trùng diệt sâu bệnh - TS Nguyễn Ngọc Châu, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (5/28/2011 9:46:55 AM)
Sử dụng vôi trong nuôi trồng thủy sản - KS. Đinh Quốc Khánh (5/27/2011 10:42:39 AM)
Câu chuyện độc quyền của một giống mía do Việt Nam lai tạo (5/27/2011 10:41:32 AM)
Cho bưởi ra trái theo ý muốn (5/27/2011 9:06:52 AM)
Những vấn đề chú ý về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2011-2020 (5/26/2011 4:28:22 PM)
Nguy cơ tái phát bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá trên lúa hè thu 2011- ThS.Võ Thị Hồng Thủy (5/25/2011 8:03:34 AM)
Sẵn sàng cho ngày hội lớn của toàn dân (5/18/2011 8:39:18 AM)
Nuôi gà khép kín, an toàn dịch bệnh - Nguyên Toàn (5/14/2011 10:30:20 AM)
Hiệu quả máy phun thuốc tự chế (5/13/2011 2:43:24 PM)
Nuôi cá lóc- nghề mới phát (5/13/2011 2:31:45 PM)
Nuôi cá lóc trong hồ xi măng (5/12/2011 2:47:02 PM)
Thuốc sinh học Bt diệt sâu thế nào? (5/8/2011 1:57:11 PM)
Hỗn hợp thuốc trừ sâu- hại nhiều hơn lợi (5/8/2011 9:06:18 AM)
Quản lý việc áp dụng dinh dưỡng cho lúa tại Philippines (5/7/2011 10:10:06 AM)
Lúa Bt năng suất cao, giảm áp lực sâu hại (5/7/2011 9:54:53 AM)
Phát hiện xác bò biển trên bãi biển Hà Tiên (4/19/2011 5:28:54 PM)

bản đồ Bản đồ các trại

Liên Kết website Video
Liên Kết website Liên kết Website

TRUNG TÂM GIỐNG NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP KIÊN GIANG - ĐỊA CHỈ: 731 NGUYỄN TRUNG TRỰC, TP. RẠCH GIÁ
TEL: 0297.381 2553 - 0297.381 3147 - 0297.381 2561
Email: giongkg@giongkiengiang.com