Nội dung

Chọn tạo, sản xuất và cung ứng giống lúa giai đoạn 2011 và hướng đến 2015 (4/17/2011 1:07:34 PM)

Bài viết của TS Nguyễn Trung Tiền, Giám đốc Trung Tâm Giống NLNN Kiên Giang

Chọn tạo giống lúa cao sản hiện nay không còn độc quyền bởi một số Viện nghiên cứu lúa mà nó đang trở nên phổ biến tại các tỉnh nhất là các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay các đơn vị làm giống cấp tỉnh đã đầu tư con người, cơ sở vật chất để nghiên cứu lai tạo nhưng kết quả chưa nhiều, còn ở dạng tiềm năng như Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp. Trong điều kiện lúa mùa tỉnh Kiên Giang ngày càng thu hẹp do sự lấn dần của lúa cao sản, lúa mùa có thể tồn tại một thời gian nhất định nhưng đến một lúc nào đó, nhu cầu lương thực trở nên bức bách thì vấn đề sản xuất (SX) lúa mùa dài ngày trở nên lỗi thời vì thiếu nước ngọt do thời gian dài, năng suất (NS) thấp. Mặt khác công nghệ SX lúa đã hoàn thiện, người ta có thể chuyển các gen có phẩm chất cao, chịu được các điều kiện khắc nghiệt vào lúa ngắn ngày thì việc duy trì lúa mùa dài ngày là không cần thiết. Ngoài ra, thời tiết khí hậu ngày càng khắc nghiệt, đất SX lúa trên thế giới ngày càng thu hẹp, thậm chí chuyển sang trồng mía, bắp, để làm nguyên liệu điều chế nhiên liệu sinh học nên diện tích SX lương thực ngày càng thu hẹp. Điều này thúc đẩy diện tích lúa cao sản ngắn ngày sẽ tăng lên từng năm. Để đáp ứng nhu cầu này thì ngành giống cần được đầu tư nhân lực, trang thiết bị để có thể tạo ra các giống mới phù hợp với sinh thái, tiềm năng đất đai từng vùng cụ thể. Để chọn tạo giống có hiệu quả, trong điều kiện tỉnh  Kiên Giang cần đáp ứng những yêu cầu sau:

- Về các tính trạng trong chọn dòng/giống lúa mới phải ưu tiên dòng/giống có thời gian sinh trưởng (TGST) phù hợp từng vùng sinh thái cụ thể, phải đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, chống chịu sâu bệnh, NS cao và thích nghi với điều kiện từng vùng đất. Tiêu chí ưu tiên hàng đầu cần đảm bảo là TGST của giống. Trong tỉnh ta có một số vùng đất điển hình như vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX), phải chọn các giống cực ngắn ngày (nhỏ hoặc bằng 90 ngày) để có thể né lũ sớm, né mặn hạn cuối vụ, đồng thời một số vùng chủ động nước có thể làm thêm một vụ thứ ba (thu đông). Vùng U Minh Thượng (UMT) có thể chia ra 2 tiểu vùng, tiểu vùng 1 là tiểu vùng không bị áp lực thiếu nước cuối vụ, không bị mặn, có thể sử dụng các giống có TGST trung bình 95-100 ngày. Tiểu vùng 2 là tiểu vùng giáp biển, bị ảnh hưởng nước mặn, bố trí mùa vụ chủ yếu là một vụ tôm- một vụ lúa. Tiểu vùng này cần chọn tạo các giống cực ngắn ngày (nhỏ hoặc bằng 90 ngày) đồng thời phải là giống chống chịu mặn >4%0. Vùng Tây sông Hậu là vùng nước ngọt quanh năm, vùng này cũng có 2 tiểu vùng, tiểu vùng 1 bao gồm đất nước ngọt nhưng bị ảnh hưởng lũ hàng năm, tiểu vùng này cũng cần có những giống cực ngắn ngày (nhỏ hoặc bằng 90 ngày) để né lũ hoặc bố trí thêm một vụ lúa thu đông; tiểu vùng 2 bao gồm đất nước ngọt và không bị ảnh hưởng lũ nên có thể bố trí 2 vụ ăn chắc với giống có TGST trung bình 95-100 ngày và mang một số tính trạng đặc thù (thơm, dẽo, ngon cơm). Bên cạnh đó, một phần diện tích khác có khả năng làm 3 vụ thì cần những giống cực ngắn ngày (nhỏ hoặc bằng 90 ngày).

- Tiêu chí cần đảm bảo tiếp theo là chất lượng gạo, vì hiện nay vùng ĐBSCL sản xuất lúa chủ yếu theo hướng hàng hóa xuất khẩu (XK), nhu cầu gạo của người nhập khẩu như thế nào thì người sản xuất (SX) phải đáp ứng. Hiện nay XK gạo còn mang tính thụ động, chưa có tiêu chí ổn định, chưa có vùng nghuyên liệu đồng nhất, doanh nghiệp XK gặp người mua gạo loại nào thì đi kiếm loại gạo ấy để cung ứng, có lúc thì cần gạo 25 % tấm với số lượng lớn và các doanh nghiệp XK mua lúa rất dễ, lúa nào cũng được, và tạo điều kiện khuyến khích nông dân SX lúa chất lượng thấp, lúc khác khi gặp « mối »  đòi hỏi gạo 5 % tấm, hạt dài, không bạc bụng,...thì người SX không thể bán gạo được, vì họ quen SX các giống có chất lượng thấp như OM 50404. Chính vì chưa có khả năng dự báo thị trường, chưa có tiêu chí rõ rệt nên doanh nghiệp XK không có vùng nguyên liệu, không gắn bó với người SX và đơn vị chọn tạo giống nên thường giữa người SX và doanh nghiệp XK có sự lệch pha. Bản thân những đơn vị chọn tạo, SX giống cũng gặp khó khi nhân giống có chất lượng cao thì dân lại yêu cầu giống có chất lượng thấp. Vì vậy các đơn vị chọn giống cần có các giống lúa mang các gen điển hình như gen ngắn ngày, gen chống chịu mặn, gen gạo có mùi thơm, gen hạt dài,...Đây là nguồn vật liệu lai tạo với các tính trạng đa dạng, sẵn sàng tạo ra dòng/giống theo yêu cầu của thị trường. Xu hướng chung hiện nay, thị trường gạo yêu cầu giống có chất lượng tốt (hạt dài, không bạc bụng, mềm cơm) đồng thời có NS cao.

Ngoài ra để phát huy tiềm năng các vùng đất khó khăn như vùng đất phèn, vùng đất mặn thì nhu cầu các giống chống chịu phèn mặn, cho NS cao cũng là tiêu chí cần thiết. Hiện nay các giống chịu phèn cho NS chưa cao, nên hướng sắp tới cần nghiên cứu tạo ra các giống chịu phèn cho NS tương đương các giống vùng nước ngọt sẽ là một thành công lớn trong ngành chọn tạo giống. Bên cạnh đó, giống lúa cũng phải cứng cây, chống chịu được một số sâu bệnh chính như rầy nâu, bệnh đạo ôn, ...  Trong các năm tới, các nhà chọn giống cần giải quyết các vấn đề sau :

- Chọn tạo giống từng bước cần tiếp cận công nghệ chuyển gen (transform or modified) thông qua sự kết hợp với các viện, trường và các học viên làm đề tài thạc sĩ, tiến sĩ. Ở IRRI việc lai tạo giống chịu mặn, người ta dùng các donors (các giống cho) như Pokkali, Nona Bokra, Kalarata và SR26B. Chúng đã được lai với những giống mà có các đặc tính nông học tốt và một vài dòng năng suất cao, chịu mặn đã được đưa ra SX như IR 4630-22-2-5-1-3 và IR 4595-4-1-13 có nguồn gốc từ Pokkali; IR 9884-54-3 và IR 10198-66-2 có nguồn gốc từ Nona Bokra; IR 10167-129-3-4 có nguồn gốc từ Kalarata và IR 10206-29-2-1 có nguồn gốc từ SR26B (Senadhira, 1987). Ở Việt Nam nghiên cứu lúa chống chịu mặn chưa nhiều, vài năm gần đây, qua thanh lọc mặn giai đoạn mạ, chúng tôi phát hiện một số giống lúa mùa chống chịu mặn cao như: Trắng Chùm, Thần Nông Mùa, Nếp Áo Già, Trắng Điệp, Bà Đen, Nếp Bờ Giếng, Ba Bụi,…Đây là các giống có thể làm nguồn vật liệu lai tạo trong chương trình chọn tạo giống chống chịu mặn.

- Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu tăng năng suất, sản lượng lúa trong tỉnh, các đơn vị làm giống phải thường xuyên khảo nghiệm chọn và du nhập các giống lúa mới. Hiện nay lúa lai cũng đã thâm nhập vào tỉnh Kiên Giang ngày càng nhiều. Một số giống lúa lai đã được trồng phổ biến như: BTE1, PHB 71, PAC 807, ... Lúa lai Việt Nam bước đầu phát triển các giống lai 2 dòng như TH3-4, TH3-5, TH3-11, TH5-1, TH6-3, TH2-3.... Qua tìm hiểu bước đầu ghi nhận nông dân vùng U Minh Thượng đã mạnh dạn mua giống lúa lai với giá cả rất đắt, 50-85 ngàn đồng/kg, một số hộ sản xuất trên đất tôm cho thấy NS giống BTE1 có cao hơn so với giống lúa thuần nhưng chưa hiệu quả rõ về mặt kinh tế. Với nhu cầu trong vùng như vậy, chúng tôi cũng đã hợp tác với một số đơn vị cung ứng giống lúa lai, thực hiện khảo nghiệm, sản xuất thử các giống triển vọng.

- Tiếp cận thông tin kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra những sản phẩm giống đột phá. Hiện nay, những nghiên cứu mang tính đột phá đang được triển khai tại Viện nghiên cứu Lúa quốc tế và các Viện nghiên cứu quốc gia. Mô hình cây lúa lý tưởng đã được Peng và ctv. (1994) xác định với các đặc điểm cây lúa cụ thể như sau: Chiều cao trung bình hoặc hơi thấp; tỉ lệ đẻ chồi trung bình, số bông/m2 khoảng 270-300 bông ; mỗi bông cho 200 – 250 hạt ; thời gian sinh trưởng khoảng 100 – 130 ngày ; chỉ số thu hoạch là 0,55 – 0,60 ; thân cứng, lá dầy, xanh đậm, thẳng đứng ; rễ dài và rất khoẻ; có khả năng kháng các sâu bệnh chính và sử dụng nước, phân bón hiệu quả. Qua công nghệ chuyển gen đang và sẽ phổ biến trong vài năm tới, sẽ tạo ra các giống lúa ưu thế lai như trên, có năng suất và phẩm chất cao hoặc giống lúa chịu phèn, mặn hoặc có phẩm chất cao như ý muốn, có chứa hàm lượng protein và các vitamin cần thiết. Đây cũng là hướng đi của các nhà chọn tạo giống lúa mà các tỉnh vùng ĐBSCL cần đầu tư. Ngoài ra hiện nay IRRI đang triển khai nghiên cứu chuyển chu kỳ quang hợp cây lúa từ C3 sang C4 để nâng hiệu suất sử dụng ánh sáng cho quá trình quang hợp lên cao và kết quả là năng suất sẽ tăng lên 50 % so với năng suất hiện nay. Đây là những nghiên cứu có tính đột phá, thành tựu của nó có thể vang vội như thời kỳ cách mạng xanh trong thập kỷ 60, những nhà nghiên cứu chọn tạo giống cần bám sát để có thể cập nhật và ứng dụng kịp thời.

Bên cạnh những thuận lợi thì những khó khăn, thử thách đối với công tác giống ngày càng nhiều, biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng rõ nét và đã tác động từng bước đến SX nông nghịêp đối với các nước châu Á, Việt Nam là 1 trong 11 nước được dự đoán là chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Thời gian gần đây thời tiết ngày càng phức tạp, khác thường, tần suất mưa lũ ngày càng nhặt hơn, hạn hán ngày càng gay gắt hơn, xâm nhập mặn ngày càng sâu hơn,…điều này làm cho SX lúa vùng ĐBSCL ngày càng khó khăn hơn. Để đối phó với điều kiện môi trường sinh thái thay đổi như vậy, công tác nghiên cứu SX giống cũng phải thích nghi theo chiều hướng môi trường sinh thái cụ thể. Mặt khác, chọn tạo một giống lúa phải mất nhiều năm, muốn chủ động có những giống chống chịu mặn, chịu nước sâu hoặc điều kiện khô hạn thì ngay từ lúc này phải có đầu tư nghiên cứu dài hạn, đây là giới hạn cần có biện pháp khắc phục của Nhà nước và các đơn vị cấp tỉnh.

Về cung ứng giống, hiện nay trong vùng ĐBSCL đang hình thành thị trường giống ngày càng rõ nét, nhất là trong điều kiện nhà nước đang có chủ trương cho tích tụ ruộng đất, sự cạnh tranh về sản phẩm giống ngày càng mạnh giữa các các Cty giống T.P Hồ Chí Minh, các Cty giống cấp tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, thậm chí một số công ty giống cổ phần của của tư nhân cũng tham gia thị trường lúa giống. Bên cạnh đó các giống lúa lai có nguồn gốc Ấn Độ, Mỹ, Trung Quốc cũng đã thăm dò và du nhập vào vùng ĐBSCL. Đây là điều kiện bắt buộc các đơn vị SX giống phải nâng chất lượng giống ngày càng cao về nội dung cũng như hình thức, thị trường giống lúa cũng sẽ phân khúc để đáp ứng theo quy luật cung cầu, có người sử dụng giống lúa thật tốt, có người sử dụng giống lúa trung bình, cũng có người chỉ sử dụng lúa tự để lại trong quá trình SX lúa lương thực,... Nhưng nói chung, giống lúa tốt là giống lúa được SX mang tính chuyên nghiệp cao, độ thuần giống được đảm bảo, chủng loại giống tương đối mới, sâu bệnh chưa thích nghi được nên khả năng chống chịu sâu bệnh cao, giống tốt là giống cho NS cao và ổn định trong một thời gian nhất định, cho sản phẩm có chất lượng đạt tiêu chuẩn XK.Vì vậy khi sử dụng giống lúa tốt hiệu quả SX sẽ cao hơn và chính vì vậy nông dân sẵn sàng trả giá cao để có giống tốt. Người SX và cung ứng giống cũng vậy, lợi nhuận từ việc bán giống sẽ thúc đẩy họ đầu tư cơ sở hạ tầng, công tác nghiên cứu, khảo nghiệm, thử nghiệm từng vùng đất để cuối cùng chọn ra giống đáp ứng nhu cầu thị trường cụ thể, chất lượng giống được nâng cao. Như vậy cả 2 phía đều có lợi, và khi quyền lợi cả 2 phía được duy trì, không có sự mâu thuẫn về quyền lợi thì mối quan hệ này sẽ ổn định và bền vững.

 Ngoài ra nhu cầu gạo xuất khẩu thay đổi liên tục giữa gạo thường (25 % tấm) với gạo chất lượng cao (gạo 5 % tấm, gạo thơm,...) sẽ gây khó khăn cho các nhà chọn giống và nông dân trong việc SX giống phù hợp với thị trường trong từng thời điểm. Để khắc phục  tình trạng này, đòi hỏi doanh nghiệp XK phải gắn kết chặt chẽ với người SX và cần thực hiện đầu tư bao tiêu nguồn nguyên liệu XK hoặc ít nhất phải định hướng nhu cầu gạo XK và thực hiện theo định hướng ấy để nông dân, người SX có kế hoạch SX phù hợp với thị trường. Đồng thời để chất lượng lúa gạo đồng nhất, đảm bảo đủ tiêu chuẩn XK, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho nông dân chấm dứt tình trạng sử dụng lúa thịt làm giống. Bên cạnh đó, công tác chọn tạo, SX và cung ứng giống lúa cần phải được Nhà nước cấp tỉnh quan tâm đầu tư đào tạo con người, cơ sở vật chất nghiên cứu, SX, chế biến bảo quản giống, để từng bước ngành giống trưởng thành; Bộ Nông nghiệp và PTNT phải có chính sách đầu tư ưu tiên phát triển giống các cấp trong từng giai đoạn cụ thể; Bản thân những đơn vị SX giống phải có chiến lược SX và cung ứng giống mang tính ổn định, phải tận dụng lợi thế sẵn có để nâng cao tính cạnh tranh, phải xây dựng thương hiệu, nhãn mác, tạo uy tín, phải duy trì chất lượng, giá thành và tạo mối quan hệ tốt giữa người cung ứng giống và người tiêu thụ giống. Có được sự phối hợp đồng bộ ấy thì giống sẽ là tiền đề cho phát triển nông nghiệp trong các năm thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa.

 

lua 2011-2015
       
   
         
   
 

         
       
 

Các tin cũ hơn:

Tiềm năng ứng dụng của công nghệ protein trong nghiên cứu tính chống chịu stress phi sinh học ở cây trồng_CN. PHAN THỊ CẨM QUYÊN (3/28/2018 5:53:38 PM)
Trung tâm Giống Nông Lâm Ngư nghiệp Kiên Giang cung ứng giống cây ăn trái và hoa kiểng các loại_KS. PHẠM DUY THIÊM (1/24/2018 5:09:41 PM)
Thu thập, lưu giữ, bảo tồn một số giống cây ăn quả và cây lương thực tại tỉnh Kiên Giang_ThS. NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG (10/13/2017 9:54:20 AM)
Một số lưu ý trong trồng và chăm sóc cây tiêu ở tỉnh Kiên Giang_ThS. LÂM THỊ KIM CHUNG (8/18/2017 4:26:04 PM)
Tiềm năng nhân giống in-vitro cây hồ tiêu (Piper Nigrum)_CN. LÊ THỊ NGỌC TRÂM (6/19/2017 4:38:57 PM)
Tiềm năng ứng dụng nhân giống in-vitro trong sản xuất nguồn dược liệu Đinh lăng (Polyscias fruticosa)_CN. PHAN THỊ CẨM QUYÊN (5/12/2017 3:49:56 PM)
TRỒNG VÀ CHĂM SÓC LAN Cattleya labiata NUÔI CẤY MÔ_CN. TRẦN THỊ KIM KHUÊ (11/30/2016 4:37:51 PM)
Giống lúa thuần GKG9 của Trung tâm Giống Nông – Lâm – Ngư nghiệp tỉnh Kiên Giang được công nhận là giống cây trồng nông nghiệp mới_ CN. TRẦN THỊ THÙY TIÊN (10/31/2016 9:49:58 AM)
Giới thiệu một số giống lúa cao sản chống chịu mặn, năng suất cao, chất lượng gạo tốt cho sản xuất vụ Mùa (vụ lúa sau vụ tôm) vùng U Minh Thượng- Ks. PHẠM DUY THIÊM (7/20/2016 10:29:09 AM)
Kỹ thuật nhân giống In-Vitro hoa lan bằng hạt _Ks.LÊ THỊ KIM NGÂN (5/31/2016 10:33:30 AM)
Kết quả Khảo nghiệm cơ bản các bộ giống lúa mới tại tỉnh Kiên Giang, vụ Đông Xuân 2015 – 2016- Ks. NGUYỄN THỊ NGỌC UYÊN. (5/11/2016 3:51:46 PM)
Biện pháp kỹ thuật hạn chế sự rụng trái trên cây sầu riêng_Ks.TRẦN HỮU NGHỊ (4/26/2016 9:30:08 AM)
Khuyến cáo cơ cấu giống lúa cho sản xuất vụ Hè thu 2016, tỉnh Kiên Giang_TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (3/26/2016 9:50:38 AM)
Kết quả bước đầu ứng dụng marker phân tử trong công tác chọn tạo giống lúa mới tại Kiên Giang _Th.S- NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG (3/23/2016 11:16:52 AM)
Lịch thời vụ gieo sạ lúa vụ Đông xuân 2015 - 2016 tại tỉnh Kiên Giang_TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (10/19/2015 8:36:43 AM)
Phòng trừ một số bệnh hại trên cây bưởi trong mùa mưa_KS. TRẦN HỮU NGHỊ (8/24/2015 9:02:08 AM)
Kỹ thuật cần lưu ý trong trồng và chăm sóc giống chuối già Nam Mỹ_KS. TRẦN QUANG TẤN (7/18/2015 9:05:39 AM)
Ứng dụng các thành tựu Công nghệ Sinh học trong việc cải tiến và nâng cao chất lượng giống lúa_CN. PHAN THỊ CẨM QUYÊN (7/14/2015 2:39:08 PM)
Củng cố công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giống lúa _TS NGUYỄN TRUNG TIỀN (5/26/2015 2:55:03 PM)
Giới thiệu đặc tính một số giống lúa có triển vọng cho sản xuất vụ Hè thu 2015 tại tỉnh Kiên Giang _KS. PHẠM THỊ NHƯ QUỲNH (4/1/2015 8:56:22 AM)
Vai trò của phân hữu cơ vi sinh đối với đất vườn trồng cây sầu riêng_CN. VŨ THỊ PHƯỢNG (10/29/2014 7:35:40 AM)
Biện pháp khắc phục sự suy kiệt trên vườn cây sầu riêng_KS. TRẦN HỮU NGHỊ (9/11/2014 8:23:35 AM)
Một số kỹ thuật cần lưu ý để hạn chế ngộ độc hữu cơ đối với ruộng lúa Thu Đông_KS. PHẠM THỊ MINH HUỆ (8/5/2014 5:05:20 PM)
Một số kỹ thuật cần lưu ý trong canh tác lúa trên đất phèn và xử lý ngộ độc phèn trong ruộng lúa vụ Hè Thu _ KS. NGUYỄN THỊ LAN (7/4/2014 8:20:04 AM)
Giới thiệu đặc tính một số giống lúa cho sản xuất vụ Hè Thu và Thu Đông 2014 tại tỉnh Kiên Giang và một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng của từng giống_ThS. HOÀNG THỊ MINH THANH (5/21/2014 8:42:09 AM)
Một số loài hoa kiểng được ưa chuộng trong ngày Tết _ CN. TRẦN QUANG TẤN (12/31/2013 10:08:27 AM)
Triệu chứng thiếu nguyên tố Boron trên cây dừa và biện pháp khắc phục - ThS. LƯ THỊ HỒNG HẠNH (9/10/2013 8:19:37 AM)
Cây trồng biến đổi gen - Những thuận lợi và thách thức - CN. NHÂM THỊ THU THỦY (12/1/2012 10:44:21 AM)
Tác nhân gây hại và biện pháp phòng trừ bệnh loét trên cây bưởi - KS. NGUYỄN VŨ THÁI SƠN (11/26/2012 10:51:01 AM)
Áp dụng phương pháp nuôi cấy mô thực vật trong sản xuất một số loại hoa kiểng có giá trị kinh tế cao - CN. TRẦN QUANG TẤN (10/24/2012 4:14:36 PM)
Một số lưu ý trong kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sầu riêng giai đoạn kiến thiết cơ bản - ThS. LƯ THỊ HỒNG HẠNH (9/29/2012 9:34:32 AM)
Nhân giống chuối bằng phương pháp nuôi cấy mô, một giải pháp cho nghề trồng chuối xuất khẩu hiện nay - TS. NGÔ ĐÌNH THỨC (9/22/2012 8:26:37 AM)
Đánh giá cơ cấu giống lúa vụ hè thu 2012 và đề xuất cơ cấu giống lúa vụ đông xuân 2012-2013 - TS. NGUYỄN TRUNG TIỀN (9/11/2012 9:05:07 AM)
Kết quả khảo nghiệm sản xuất và nhân giống xác nhận vụ hè thu 2012 - TS. NGUYỄN TRUNG TIỀN (8/31/2012 3:41:16 PM)
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cacao - ThS. LƯ THỊ HỒNG HẠNH (5/3/2012 2:57:27 PM)
Kết quả khảo nghiệm sản xuất và nhân giống lúa cấp xác nhận vụ đông xuân 2011-2012 tỉnh Kiên Giang - TS Nguyễn Trung Tiền (3/25/2012 3:34:12 PM)
Kỹ thuật trồng, chăm sóc dừa dứa và dừa xiêm xanh - Ths. LÊ HỮU TOÀN (12/15/2011 3:30:09 PM)
Sản xuất và cung ứng giống năm 2012 - Thời cơ và những thách thức- TS NGUYỄN TRUNG TIỀN (12/11/2011 2:43:51 PM)
Kỹ thuật chăm sóc sầu riêng sau khi thu hoạch - Ks. Nguyễn Vũ Thái Sơn (10/26/2011 3:00:08 PM)
Một số lưu ý trong kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa chuông từ cây giống nuôi cấy mô (10/20/2011 1:46:59 PM)
Bệnh thối gốc chảy mủ, thối trái cây sầu riêng (10/12/2011 2:21:27 PM)
Ứng dụng chế phẩm sinh học phòng trừ rầy nâu hại lúa - Ks. HOÀNG THỊ MINH THANH (9/22/2011 2:19:06 PM)
Cho sầu riêng ra trái mùa nghịch (7/7/2011 8:25:16 AM)
Trồng chuối xiêm năng suất cao (7/5/2011 8:02:20 AM)
Dừa dứa: Cây cho hiệu quả kinh tế cao - Ths.Lê Hữu Toàn (6/25/2011 7:50:30 AM)
Nghiên cứu giống lúa đối phó biến đổi khí hậu – TS Nguyễn Trung Tiền (6/10/2011 2:49:37 PM)
Kỹ thuật trồng xen ổi trong vườn cam sành (6/1/2011 2:23:52 PM)
Chuối … lên hương (6/1/2011 10:18:18 AM)
GKG1 cùng với OM 5451 sẽ thay dần giống IR 50404 (5/9/2011 11:25:59 AM)
Hợp tác chia sẻ bản quyền giống lúa mới (5/1/2011 5:58:37 PM)
Kết Quả sản xuất giống lúa cấp siêu nguyên chủng vụ đông xuân 2010-2011 (P2) (4/15/2011 9:08:38 PM)
Kết Quả sản xuất giống lúa cấp siêu nguyên chủng vụ đông xuân 2010-2011 (P1) (4/15/2011 9:06:26 PM)

bản đồ Bản đồ các trại

Liên Kết website Video
Liên Kết website Liên kết Website

TRUNG TÂM GIỐNG NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP KIÊN GIANG - ĐỊA CHỈ: 731 NGUYỄN TRUNG TRỰC, TP. RẠCH GIÁ
TEL: 077381 2553 - 077381 3147 - 077381 2561
Email: giongkg@giongkiengiang.com